ĐIỀU HÀNH-TÁC NGHIỆP

SGD UBNDPGD1

THÔNG TIN - QUẢN LÝ

GOOGLEPCTHKNLICHVIOLETEMISDOIBTNBVBBDTXSMAS RRTT

  • images/stories/hinhanh/1.jpg
  • images/stories/hinhanh/10.jpg
  • images/stories/hinhanh/3.jpg
  • images/stories/hinhanh/4.jpg
  • images/stories/hinhanh/HD1516 5.jpg
  • images/stories/hinhanh/NH2014-2015 3.jpg
  • images/stories/hinhanh/aman.jpg
  • images/stories/hinhanh/dsc04439.jpg
  • images/stories/hinhanh/dscf1254.jpg
  • images/stories/hinhanh/hs thi.jpg
  • images/stories/hinhanh/khen cd.jpg
  • images/stories/hinhanh/phong doc.jpg
  • images/stories/hinhanh/tham gia giai bong da thieu nhi cup nauy.jpg
  • images/stories/hinhanh/ttvh 2011.jpg
  • images/stories/hinhanh/ttvh1thcs2012.jpg
  • images/stories/hinhanh/ttvh2thcs2012.jpg
  • images/stories/hinhanh/tv1.jpg
  • images/stories/hinhanh/vn1dailoc2012.jpg
  • images/stories/hinhanh/vn2dailoc2012.jpg
  • images/stories/hinhanh/vnpl.jpg
  • images/stories/hinhanh/HD1516 1.JPG
  • images/stories/hinhanh/HD1516 2.JPG
  • images/stories/hinhanh/HD1516 3.JPG
  • images/stories/hinhanh/HD1516 4.JPG
  • images/stories/hinhanh/HD1516 6.JPG
  • images/stories/hinhanh/HD1516 7.JPG

Liên kết website

Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay374
mod_vvisit_counterHôm qua501

Chúng ta có: 15 Khách trực tuyến
Tin từ các báo

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế thi Trung học phổ thông quốc gia

(Tin từ BGDĐT) Ngày 10/3/2016, Bộ GDĐT ban hành Thông tư về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế thi Trung học phổ thông quốc gia ban hành kèm theo Thông tư số 02/2015/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 02 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

(ảnh minh họa/internet)

Một số nội dung chính như sau:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế thi Trung học phổ thông quốc gia ban hành kèm theo Thông tư số 02/2015/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 02 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, như sau:

1. Điều 5 được sửa đổi, bổ sung như sau:  

"Điều 5. Cụm thi

1. Mỗi tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức:

a) Cụm thi cho thí sinh dự thi để lấy kết quả xét công nhận tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT) và xét tuyển sinh đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) do trường ĐH chủ trì, phối hợp với sở giáo dục và đào tạo (GDĐT) và với trường ĐH, CĐ khác tổ chức (sau đây gọi là cụm thi ĐH);

b) Cụm thi cho thí sinh dự thi để lấy kết quả xét công nhận tốt nghiệp THPT do sở GDĐT chủ trì, phối hợp với trường ĐH, CĐ tổ chức (sau đây gọi là cụm thi tốt nghiệp).

2. Tùy tình hình cụ thể của địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định không tổ chức cụm thi tốt nghiệp mà tổ chức cho cả hai đối tượng thí sinh dự thi ở cụm thi ĐH tại địa phương."

2. Gạch đầu dòng thứ hai điểm a khoản 1 Điều 8 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

"- Phó Chủ tịch: Lãnh đạo trường ĐH, CĐ chủ trì cụm thi hoặc tham gia cụm thi, lãnh đạo sở GDĐT. Trường hợp không đủ lãnh đạo trường ĐH, CĐ, lãnh đạo sở GDĐT để đảm nhiệm chức danh này thì Phó Chủ tịch có thể là lãnh đạo phòng, ban, khoa, trung tâm của trường ĐH chủ trì cụm thi; lãnh đạo phòng, ban của sở GDĐT."

3. Bổ sung khoản 3 và khoản 4 vào Điều 10 như sau: 

"3. Bố trí tại mỗi Điểm thi 01 điện thoại cố định dùng để liên hệ với Hội đồng thi; ở những Điểm thi không thể bố trí được điện thoại cố định thì bố trí 01 điện thoại kéo dài hoặc điện thoại di động đặt cố định tại phòng trực của Điểm thi. Mọi cuộc liên lạc trong thời gian thi đều phải bật loa ngoài và nghe công khai. Trong trường hợp cần thiết, có thể bố trí máy tính tại phòng trực của Điểm thi và đảm bảo máy tính chỉ được nối mạng khi chuyển báo cáo nhanh cho Hội đồng thi.

4. Trong khu vực coi thi, chấm thi, phúc khảo không được mang và sử dụng các thiết bị thu, phát thông tin (trừ quy định tại khoản 3 Điều này)."

4. Điều 11 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 11. Quản lý và sử dụng dữ liệu thi

1. Các Hội đồng thi công bố kết quả thi sau khi chuyển dữ liệu kết quả thi về Bộ GDĐT và hoàn thành việc đối chiếu giữa dữ liệu kết quả thi gửi về Bộ GDĐT với dữ liệu kết quả thi lưu tại Hội đồng thi.

2. Bộ GDĐT chịu trách nhiệm quản lý dữ liệu thi của thí sinh; các sở GDĐT sử dụng dữ liệu thi để xét công nhận tốt nghiệp THPT; các trường ĐH, CĐ, trung cấp sử dụng dữ liệu thi để tuyển sinh."

5. Khoản 5 Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

"5. Thời gian nộp Phiếu đăng ký dự thi được quy định trong văn bản hướng dẫn tổ chức thi hằng năm của Bộ GDĐT.

Khi hết hạn nộp Phiếu đăng ký dự thi, nếu phát hiện có nhầm lẫn, sai sót, thí sinh phải thông báo kịp thời cho Hiệu trưởng trường phổ thông hoặc Thủ trưởng đơn vị nơi đăng ký dự thi hoặc cho Hội đồng thi trong ngày làm thủ tục dự thi để sửa chữa, bổ sung.

Các trường hợp đặc biệt được phép bổ sung các loại giấy chứng nhận để được hưởng chế độ ưu tiên, hưởng cộng điểm khuyến khích phải thực hiện trước ngày thi mới có giá trị."

6. Điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 20 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

"đ) Cán bộ giám sát, trật tự viên, nhân viên y tế, nhân viên phục vụ, công an (nơi cần thiết có thể thêm một số kiểm soát viên quân sự);

e) Chủ tịch Hội đồng thi căn cứ số lượng thí sinh đăng ký dự thi tại cụm và điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ để quyết định thành lập các Điểm thi đặt tại trường ĐH, CĐ, trung cấp và các cơ sở giáo dục khác đáp ứng được các yêu cầu tổ chức thi. Mỗi Điểm thi có Trưởng Điểm thi và có thể có các Phó trưởng Điểm thi do Chủ tịch Hội đồng thi quyết định để điều hành toàn bộ công tác coi thi tại Điểm thi được giao phụ trách.

Cán bộ Ban Coi thi không được làm nhiệm vụ tại Điểm thi có người thân dự thi."

7. Khoản 3 Điều 20 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

"3. Phó trưởng Ban Coi thi, Trưởng Điểm thi thực hiện các công việc theo sự phân công của Trưởng Ban Coi thi; Phó trưởng Điểm thi thực hiện các công việc theo sự phân công của Trưởng Điểm thi."

8. Điểm a khoản 2 Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

"a) Trưởng Điểm thi bố trí cán bộ giám sát phòng thi; đảm bảo mỗi cán bộ giám sát không nhiều hơn 07 phòng thi."

9. Gạch đầu dòng thứ nhất điểm c khoản 2 Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"- Giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của CBCT, các thành viên khác tại khu vực được phân công; giám sát thí sinh được CBCT cho phép ra ngoài phòng thi;"

10. Khoản 2 Điều 23 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

"2. Phòng và thiết bị chứa bài thi, tủ và thùng đựng bài thi phải được niêm phong và khoá; chìa khóa do Trưởng Ban Thư ký giữ; khi đóng, mở phải có sự chứng kiến của công an và ủy viên Ban Thư ký Hội đồng thi."

11. Điểm b và điểm c khoản 1 Điều 24 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

"b) Phó trưởng Ban: Lãnh đạo trường ĐH, CĐ, lãnh đạo sở GDĐT hoặc lãnh đạo phòng, ban, trung tâm của trường ĐH, CĐ; lãnh đạo các phòng, ban thuộc sở GDĐT và lãnh đạo các trường phổ thông; trong đó, Phó trưởng Ban thường trực là lãnh đạo đơn vị chủ trì cụm thi hoặc trưởng các phòng, ban thuộc trường ĐH và sở GDĐT chủ trì cụm thi;

c) Các uỷ viên gồm Trưởng môn chấm thi và cán bộ chấm thi (CBChT) là cán bộ, giảng viên ĐH, CĐ và cán bộ, giáo viên THPT. Mỗi môn thi phải có ít nhất 03 CBChT.

CBChT phải là người đang trực tiếp giảng dạy đúng môn được phân công chấm. Những giảng viên, giáo viên đang trong thời kỳ tập sự và thành viên Ban Thư ký, Ban làm phách của Hội đồng thi không được chấm thi;"

12. Khoản 6 Điều 26 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

"6. Tổ chấm tiến hành chấm điểm và quy đổi điểm bằng máy tính sang thang điểm 10, làm tròn đến hai chữ số thập phân cho từng bài thi trắc nghiệm. Thống nhất sử dụng mã môn thi trong các tệp dữ liệu theo quy định của Bộ GDĐT."

13. Khoản 1 và khoản 2 Điều 28 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

"1. Sau khi chấm thi xong tất cả các môn, Chủ tịch Hội đồng thi duyệt kết quả thi, báo cáo và nộp toàn bộ dữ liệu kết quả thi về Bộ GDĐT (Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục) để lưu giữ và đối chiếu. Dữ liệu kết quả thi phải lưu vào 02 đĩa CD giống nhau, được niêm phong và lập biên bản niêm phong dưới sự giám sát của thanh tra và công an; 01 đĩa giao cho Chủ tịch Hội đồng thi lưu giữ, 01 đĩa bàn giao cho Bộ GDĐT (Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục).

2. Sau khi duyệt kết quả thi và gửi dữ liệu thi về Bộ GDĐT, Chủ tịch Hội đồng thi chỉ đạo Ban Thư ký Hội đồng thi in Giấy chứng nhận kết quả thi cho thí sinh có đăng ký xét tuyển sinh ĐH, CĐ (theo mẫu thống nhất do Bộ GDĐT quy định), ký tên, đóng dấu và gửi cho các sở GDĐT nơi thí sinh đăng ký dự thi.

Mỗi thí sinh được cấp 01 Giấy chứng nhận kết quả thi với mã số xác định duy nhất."

14. Điểm b khoản 4 Điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

"b) Kết quả chấm phúc khảo bài thi tự luận do Ban Thư ký Hội đồng thi xử lý như sau:

- Nếu kết quả chấm của hai cán bộ chấm phúc khảo giống nhau thì lấy kết quả đó làm điểm phúc khảo và giao bài thi cho hai cán bộ chấm phúc khảo ký xác nhận;

- Nếu kết quả chấm của hai cán bộ chấm phúc khảo có sự chênh lệch thì rút bài thi giao cho Trưởng Ban Phúc khảo tổ chức cho cán bộ thứ ba chấm trực tiếp trên bài làm của thí sinh bằng mực màu khác;

- Nếu kết quả chấm của hai trong ba cán bộ chấm phúc khảo giống nhau thì lấy điểm giống nhau làm điểm phúc khảo. Nếu kết quả chấm của cả ba cán bộ chấm phúc khảo lệch nhau thì Trưởng Ban Phúc khảo lấy điểm trung bình cộng của 3 lần chấm làm tròn đến hai chữ số thập phân làm điểm phúc khảo rồi ký tên xác nhận;

- Bài thi có điểm phúc khảo lệch so với điểm chấm đợt đầu (đã công bố) từ 0,25 điểm trở lên thì được điều chỉnh điểm. Trong trường hợp điểm phúc khảo lệch so với điểm chấm đợt đầu từ 0,5 điểm trở lên thì phải tổ chức đối thoại trực tiếp giữa các CBChT đợt đầu và cán bộ chấm phúc khảo (có ghi biên bản). Nếu thấy có biểu hiện tiêu cực thì xử lý theo quy định;

- Điểm chính thức của bài thi sau phúc khảo được Trưởng Ban Phúc khảo trình Chủ tịch Hội đồng thi ký duyệt."

15. Khoản 6 Điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"6. Báo cáo kết quả phúc khảo

Điểm các bài thi được điều chỉnh sau phúc khảo do Trưởng Ban Phúc khảo trình Chủ tịch Hội đồng thi quyết định và cập nhật điểm của thí sinh sau phúc khảo vào hệ thống phần mềm quản lý thi theo quy định của Bộ GDĐT. Chủ tịch Hội đồng thi báo cáo, gửi dữ liệu cho Bộ GDĐT, đồng thời công bố và trả kết quả phúc khảo cho thí sinh.

Dữ liệu được lưu và chuyển theo quy định tại Điều 28 Quy chế này."

16. Điểm c khoản 2 Điều 36 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"c) Học sinh giáo dục THPT, học viên GDTX trong diện xếp loại hạnh kiểm, học viên GDTX tham gia học đồng thời chương trình trung cấp kết hợp với chương trình văn hóa theo chương trình GDTX cấp THPT có Giấy chứng nhận nghề do sở GDĐT hoặc các cơ sở giáo dục đào tạo và dạy nghề do ngành Giáo dục cấp trong thời gian học THPT được cộng điểm khuyến khích căn cứ vào xếp loại ghi trong Giấy chứng nhận nghề như sau:

- Loại giỏi: cộng 2,0 điểm;

- Loại khá: cộng 1,5 điểm;

- Loại trung bình: cộng 1,0 điểm"

17. Tên Chương X được sửa đổi, bổ sung như sau:

"THANH TRA, KIỂM TRA, KHEN THƯỞNG, 

XỬ LÝ CÁC SỰ CỐ BẤT THƯỜNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM"

18. Điều 44 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 44. Thanh tra, kiểm tra

1. Bộ trưởng Bộ GDĐT quyết định thanh tra và thành lập các đoàn thanh tra việc chuẩn bị thi, coi thi, chấm thi, phúc khảo và xét công nhận tốt nghiệp THPT tại tất cả các Hội đồng thi và các sở GDĐT.

2. Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học chủ trì cụm thi quyết định thành lập Đoàn kiểm tra coi thi, chấm thi, phúc khảo bài thi tại cụm thi do mình chủ trì.

3. Giám đốc sở GDĐT chủ trì cụm thi quyết định thành lập Đoàn thanh tra việc chuẩn bị thi, coi thi, chấm thi, phúc khảo tại cụm thi do mình chủ trì và việc xét công nhận tốt nghiệp THPT trên địa bàn.

4. Trình tự, thủ tục tổ chức thanh tra, kiểm tra theo quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra và hướng dẫn của Bộ GDĐT.

5. Những người có người thân dự thi tại Hội đồng thi trong năm tổ chức Kỳ thi không được tham gia công tác thanh tra, kiểm tra thi."

19. Điểm d khoản 4 Điều 49 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"d) Thí sinh bị đình chỉ thi môn thi nào sẽ bị điểm 0 (không) môn thi đó; không được tiếp tục dự thi các môn thi tiếp theo; không được sử dụng kết quả thi để xét tốt nghiệp THPT và đăng ký xét tuyển vào các trường ĐH, CĐ;"

20. Khoản 5 Điều 51 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"5. Chủ trì hoặc phối hợp với đơn vị chủ trì cụm thi điều động cán bộ, giáo viên tham gia Ban Chỉ đạo thi, Hội đồng thi, các Ban của Hội đồng thi và các khâu coi thi, chấm thi, phúc khảo, kiểm tra, thanh tra thi."

 Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2016./.

Xem chi tiết ở trang BGDĐT

 

Chính sách hưởng bảo hiểm xã hội một lần từ 01/01/2016

Chính sách hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao động kể từ ngày 01/01/2016 được thực hiện như sau:

 

- Người lao động được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội để đủ điều kiện hưởng lương hưu nhằm đảm bảo cuộc sống khi hết tuổi lao động theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội 2014.

- Trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau một năm nghỉ việc, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sau một năm không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội khi có yêu cầu thì được nhận bảo hiểm xã hội một lần.

Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau:

+ 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước năm 2014;

+ 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi;

Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau:

+ 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước năm 2014;

+ 02 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi.

Nội dung trên được quy định tại Nghị quyết về việc thực hiện chính sách hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao động ngày 22/6/2015 của Quốc hội.

 

Khắc phục lỗi không sửa được ngày giờ trên máy tính

Bài viết sau sẽ hướng dẫn các bạn cách khắc phục lỗi không thể sửa được ngày giờ trên máy tính, các bạn hãy cùng chúng tôi tìm tìm hiểu nguyên nhân và cách khắc phục nhé.


Đã có rất nhiều trường hợp không máy tính chạy sai ngày giờ, khi bạn thay đổi lại nhưng khi tắt máy đi và bật lại thì ngày giờ vẫn không thay đổi. Sau đây sẽ đưa ra một số nguyên nhân và cách khắc phục để các bạn tham khảo.

Khắc phục lỗi không sửa được ngày giờ trên máy tính

* Nguyên nhân thứ nhất: Do phần tiếp xúc giữa pin CMOS và Mainboard kém hoặc hết pin CMOS


Trong trường hợp này mặc dù bạn đã sửa lại giờ hệ thống đúng với giờ hiện tại nhưng khi tắt máy tính đi và bật lại thì vẫn bị sai

Cách khắc phục:

- Vệ sinh, lau chùi phần tiếp giáp giữa mặt Pin CMOS và Main
- Nếu không hiệu quả bạn nên thay pin CMOS mới.

Bạn có thể tham khảo thêm bài viết cách thay pin CMOS cho máy tính của chúng tôi tại đây

* Nguyên nhân thứ hai: Do User của bạn đang dùng không phải User Adminstrator

Cách khắc phục: Đăng nhập vào tài khoản Administrator để chỉnh sửa

- Đăng nhập vào User có quyền Administrator rồi thay đổi ngày giờ hệ thống, vào Menu Start, click mũi tên và chọn Switch user,  sau đó chọn Adminitrator (Hình bên dưới)

- Trường hợp không thấy hiển thị tài khoản Administrator như trên thì có nghĩa là tài khoản đó của bạn đã bị ẩn (Disable). Khi đó bạn cần khởi động máy tính ở chế độ Safe Mode, lúc đó sẽ có tài khoản Administrator để bạn chỉnh sửa lại giờ hệ thống. Tham khảo cách vào chế độ Safe Mode tại đây

- Trường hợp bạn không có tài khoản Administrator (không có password để đăng nhập), khi đó bạn có thể chỉnh sửa giờ hệ thống trong BIOS. Tham khảo thêm bài hướng dẫn truy cập vào BIOS của chúng tôi tại đây

* Nguyên nhân thứ ba: Do máy tính của bạn có cài các chương trình đóng băng ổ cứng, nên sau khi sửa bạn khởi động lại máy thì không hiệu quả.

Cách khắc phục: Bạn cần kiểm tra xem máy tính của mình có cài đặt các phần mềm đóng băng ổ cứng như Deep Freeze Standard hoặc Reboot Restore Rx... không? Nếu có thì cần phải gỡ bỏ đóng băng rồi mới tiến hành sửa đổi lại ngày giờ hệ thống.
Bạn có thể tham khảo thêm bài viết cách đóng bănggỡ đóng băng ổ cứng của chúng tôi tại đây

Như vậy, khi gặp phải trường hợp trên bạn nên kiểm tra tất cả các trường hợp để có thể thay đổi lại giờ hệ thống cho đúng với giờ hiện tại nhé.
Chúc bạn thành công! (Taimienphi.vn)

 

Trích giới thiệu: Báo GD&TĐ trả lời ý kiến bạn đọc về chế độ đối với CB-VC ngành GD

Chế độ thai sản

Hỏi: Tôi là nhân viên thiết bị đang công tác tại trường THPT thuộc vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Tôi được vào biên chế từ tháng 2/2013, hưởng mức lương viên chức loại A1, bậc 1, hệ số 2,34. Tháng 11/2013 tôi sẽ nghỉ chế độ thai sản. Tôi muốn biết về những chế độ do BHXH sẽ chi trả và những khoản phụ cấp mà nhà trường sẽ chi trả cho tôi trong thời gian tôi nghỉ thai sản? - Trần Hương ( Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. ).

Ảnh minh họa/internet
Ảnh minh họa/internet

* Trả lời:

Theo quy định của tại điều 157 – Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung năm 2012 va có hiệu lực từ ngày 1/5/2013, thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ được tăng lên từ 4 tháng thành 6 tháng. Toàn bộ thời gian nghỉ thai sản được bảo hiểm xã hội chi trả.

Đối với trường hợp sinh con trước ngày Bộ luật có hiệu lực, mà đến ngày 1/5/2013 vẫn đang trong thời gian nghỉ sinh theo luật cũ (4 tháng), người lao động sẽ được nghỉ thêm 2 tháng và 2 tháng nghỉ thêm này cũng được bảo hiểm xã hội chi trả như đối với các trường hợp sinh con sau ngày 1/5/2013.

Về mức hưởng chế độ thai sản, theo quy định tại Điều 34, 35 Luật Bảo hiểm xã hội, lao động nữ được 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

Ngoài ra, người lao động nữ còn được trợ cấp một lần khi sinh con bằng hai tháng lương tối thiểu chung.

Đối với chi phí khám chữa bệnh, sinh con theo quy định tại Điều 22 Luật bảo hiểm y tế, người lao động được bảo hiểm y tế chi trả 80% chi phí và họ phải chịu 20% chi phí.

Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng. Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 2 tháng.

Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 4 tháng.

Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

----------------------------

Thời gian nghỉ chế độ thai sản được tính hưởng phụ cấp thâm niên

Hỏi: Nhà giáo Nguyễn Như Phương ( Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. ) ở Đồng Tháp viết thư hỏi chuyên mục Hộp thư bạn đọc: Tôi là giáo viên tiểu học hiện đang nghỉ chế độ thai sản. Vậy thời gian nghỉ thai sản của tôi có được tính hưởng phụ cấp thâm niên không?

* Trả lời:

Ảnh minh họa/internet
Ảnh minh họa/internet

Theo Khoản 1 Điều 94 Luật Bảo hiểm xã hội quy định về chế độ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc như sau: Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.

Như vậy, theo thư bạn viết và theo quy định trên trong tiền lương để tính hưởng trợ cấp thai sản không bao gồm các khoản phụ cấp.

Còn tại khoản 3 Điều 2 Nghị định số: 54/2011/NĐ-CP ngày 07/4/2011 của Chính phủ: Thời gian không tính hưởng phụ cấp thâm niên như sau:

a) Thời gian tập sự, thử việc hoặc thời gian hợp đồng làm việc lần đầu;

b) Thời gian nghỉ việc riêng không hưởng lương liên tục từ 1 tháng trở lên;

c) Thời gian nghỉ ốm đau, thai sản vượt quá thời hạn theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;

d) Thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử.

Với quy định trên, nếu như bạn nghỉ chế độ thai sản theo đúng thời hạn của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì thời gian nghỉ chế độ thai sản của bạn vẫn được tính hưởng phụ cấp thâm niên nhà giáo.

* Hỏi: Tôi là giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật của một Trung tâm dạy nghề Hà Nội. Vậy trường hợp của tôi có được hưởng chế độ chính sách đối với giáo viên dạy lớp chuyên biệt không? Cấn Hà Chi – Hà Nội ( Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. ).

* Trả lời: Theo Nghị định số 43/2008/NĐ-CP ngày 8 /4 /2008 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành điều 62 và điều 72 của Luật dạy nghề thì trường hợp của chị sẽ được hưởng chế độ phụ cấp đặc thù. Hiên chị đang là giáo viên chuyên trách dạy nghề cho người tàn tật ở một trường nuôi dưỡng khuyết tật thì mức hưởng phụ cấp là 70% lương hiện hưởng (Áp dụng theo khoản 1 và khoản 2 điều 9 Nghị định này).

----------------

Giải đáp về chế độ phụ cấp thâm niên nhà giáo và phụ cấp y tế học đường

Hỏi: Tôi là Phạm Thế Phương - Giáo viên một trường ở huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Xin được hỏi chuyên mục Hộp thư bạn đọc: Tôi là giáo viên tiểu học có mã ngạch 15a203 hiện đang hưởng phụ cấp thâm niên nhà giáo mức 27%. Vì lý do sức khỏe, tôi dự định đề nghị Ban giám hiệu cho nghỉ dạy lớp làm công tác khác (thư viện chẳng hạn ). Vậy trường hợp của tôi bị cắt phụ cấp thâm niên hay cắt thời gian xét nâng mức phụ cấp thâm niên lần sau?

* Trả lời:

Theo Điều 1, Nghị định số 54/2011/NĐ – CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo quy định đối tượng và phạm vi áp dụng như sau: Nghị định này quy định về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo đang giảng dạy, giáo dục ở các cơ sở giáo dục công lập và các học viện, trường, trung tâm làm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đã được chuyển, xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Với quy định trên và theo thư bạn viết nếu như bạn chuyển sang làm công việc khác như: Thư viện thì lúc này bạn không phải là giáo viên trực tiếp giảng dạy nữa do đó trường hợp của bạn sẽ không được tính hưởng phụ cấp thâm niên.

Cô trò trong lớp học tại vùng khó khăn.  Ảnh Thái Hòa

* Hỏi: Tôi là nhân viên y tế học đường nhưng đến nay vẫn chưa được hưởng chế độ phụ cấp 20% trong khi đồng nghiệp của tôi ở các trường thuộc huyện khác của tỉnh Quảng Ninh đã được nhận chế độ phụ cấp này. Xin hỏi chuyên mục Hộp thư bạn đọc, trường hợp của tôi có được hưởng chế độ phụ cấp đối với nhân viên Y tế học đường  không? Ôn Thị Thanh Mai – Nhân viên y tế học đường Trường Mầm non Hà Tu, Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

* Trả lời:

Theo khoản 6, điều 3, Nghị định Số: 56/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 04/7/2011, quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập có quy định như sau: Đối với công chức, viên chức không trực tiếp làm chuyên môn y tế; công chức, viên chức y tế làm công tác quản lý, phục vụ tại các đơn vị sự nghiệp y tế nói chung (trừ đối tượng quy định tại điểm b khoản 5 Điều này), viên chức làm công tác chuyên môn y tế tại cơ quan, đơn vị, trường học thì thủ trưởng đơn vị căn cứ vào đặc thù công việc và nguồn thu để xem xét, quyết định nhưng không vượt quá mức 20% so với mức lương ngạch, bậc hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) của đối tượng được hưởng.

Căn cứ vào quy định trên, trường hợp của bạn, thủ trưởng sẽ căn cứ vào đặc thù công việc và nguồn thu của đơn vị để xem xét và quyết định nhưng không vượt quá mức 20%.

-------------------------------

Điều kiện hưởng trợ cấp lần đầu

(GD&TĐ) - Hỏi: Nhà giáo Đỗ Trí Dũng, GV Trường Tiểu học Vĩnh Thành - xã Đạo Trù - Tam Đảo (Vĩnh Phúc), viết thư hỏi chuyên mục Hộp thư bạn đọc: Tôi về công tác tại trường này từ năm 1999 đến nay (14 năm). Năm 2001 xã Đạo Trù được Nhà nước công nhận là xã 135 và liên tục cho đến nay vẫn vậy.Trong suốt quá trình công tác, tôi chưa được hưởng chế độ thu hút lần đầu. Vậy theo NĐ 116/2010/NĐ-CP tôi có được trợ cấp lần đầu hay không? Chế độ này có dựa theo điều kiện của từng địa phương hay không? Nếu được hưởng thì tôi phải hỏi tới cơ quan nào? Nếu bây giờ tôi chuyển về quê thì tôi đã đủ điều kiện được hưởng trợ cấp chuyển vùng theo NĐ 116/2010/NĐ-CP chưa?

Ảnh minh họa/internet
Ảnh minh họa/internet

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định Số: 116/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ 3 năm trở lên đối với nữ và từ 5 năm trở lên đối với nam được hưởng trợ cấp như sau:

1. Trợ cấp lần đầu bằng 10 tháng lương tối thiểu chung;

2. Trường hợp có gia đình chuyển đi theo thì ngoài trợ cấp lần đầu, còn được trợ cấp tiền tàu xe, cước hành lý cho các thành viên trong gia đình cùng đi và hưởng trợ cấp chuyển vùng bằng 12 tháng lương tối thiểu chung cho hộ gia đình;

3. Chỉ thực hiện một lần mức trợ cấp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này trong cả thời gian công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Như vậy với quy định trên và theo thư bạn viết, bạn đủ điều kiện được hưởng chế độ trợ cấp lần đầu. Bạn cần hỏi kế toán nhà trường, phòng Nội vụ và phòng GD&ĐT để được giải đáp thỏa đáng.

Vấn đề thứ hai bạn quan tâm theo chúng tôi hiểu là bạn đang cần biết xem mình có được hưởng trợ cấp một lần khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế hay không. Về vấn đề này, theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định trên như sau: Đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này đang công tác và có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 10 năm trở lên, khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc nghỉ hưu thì được hưởng trợ cấp một lần đối với thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Như vậy theo quy định trên và theo thư bạn viết, nếu bạn chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn bạn sẽ đủ điều kiện để được hưởng trợ cấp một lần.

(Nguồn: GD&TĐ online)

 

Khi giáo viên được giao quyền sáng tạo

(Theo báo GD&TĐ) - Năm học 2013 – 2014, Bộ GD&ĐT sẽ triển khai thí điểm chương trình giáo dục nhà trường. Nhiều giáo viên bày tỏ cảm nhận thú vị về chương trình và cho rằng, chắc chắn điều này sẽ tạo cảm hứng cho người dạy vì họ được giao quyền sáng tạo.

Hào hứng với cái mới

Giáo viên sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học

Thầy Nguyễn Hồng Lĩnh, đại diện nhóm Vật lý của Trường Thực nghiệm tại Hội thảo tập huấn phát triển chương trình nhà trường phổ thông vừa diễn ra tại Hà Nội cho biết, với sự cố vấn của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, nhóm đã xác định được quy trình xây dựng chương trình nhà trường cho bộ môn Vật lý.

Theo đó, bước đầu tiên là xác định mục tiêu môn học. Sau đó, tiến hành rà soát chương trình, sách giáo khoa hiện hành và xây dựng ma trận về mục tiêu và nội dung. Bước tiếp theo, nhóm ngồi lại bàn thảo để cùng điều chỉnh nội dung sao cho hướng tới mục tiêu dạy học và tiếp tục hoàn thiện ma trận để tiến đến việc mô tả chủ đề và khung thời gian. Cuối cùng là xây dựng chương trình khung cho từng khối, nói cách khác là xác định cái nhìn tổng quát về dạy học, dạy cái gì, dạy như thế nào, đánh giá ra sao... Sau khi đã được khung chương trình, các giáo viên lại cùng xây dựng phân phối chương trình thống nhất chung.

Đại diện cho bộ môn Lịch sử Trường THPT Nguyễn Tất Thành (Hà Nội), cô giáo Lê Thị Thu lựa chọn giải pháp phát triển theo 2 chủ đề. Chủ đề thứ nhất là bám sát sách giáo khoa. Chủ đề này được xây dựng trên 3 nguyên tắc: Tuân thủ và tôn trọng chương trình của Bộ GD&ĐT; phải đảm bảo được đặc trưng bộ môn, những kiến thức khó sẽ được lược bỏ; hướng đến phát triển năng lực trọng tâm và năng lực nhận thức lịch sử khoa học của học sinh.

Chủ đề thứ 2 nhóm thiết kế là chủ đề học tập mới. Nguyên tắc thiết kế của chủ đề này là không xa vời, phải phù hợp và làm sâu sắc, nâng cao nội dung các môn học; các chủ đề thiết kế mới phải hướng tới năng lực thực hành bộ môn; làm đa dạng các hình thức dạy học ở trên lớp. Tư tưởng bao trùm trong chủ đề Lịch sử là đề cao phần lịch sử xã hội, phần này được bổ sung làm phong phú và giảm bớt thời lượng cho những lịch sử chính trị, quân sự khô khan.

Cô Phạm Thị Thanh Huyền, đại diện nhóm tiếng Anh – Trường phổ thông vùng cao Việt Bắc thì cho biết, nhóm đã tiến hành rà soát lại chương trình sách giáo khoa hiện hành; đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong việc giảng dạy, trong nội dung chương trình; đánh giá kết quả học tập của học sinh và dựa vào hướng dẫn giảm tải của Bộ GD&ĐT. Từ đó, tiếp tục điều chỉnh những nội dung kiến thức trùng lặp. Đồng thời, điều chỉnh nội dung bài tập, câu hỏi trong sách giáo khoa không thuộc nội dung của chương trình, hoặc yêu cầu vận dụng kiến thức quá sâu không phù hợp trình độ nhận thức và tâm sinh lý lứa tuổi; điều chỉnh sắp xếp những nội dung trong sách giáo khoa cho hợp lý, linh hoạt, mềm dẻo; tăng cường các hoạt động ngoại khóa chuyên môn.

Tuy nhiên, khó khăn khi thực hiện chương trình thí điểm tại trường là học sinh miền núi thường rất nhút nhát, e dè, ngại nói, ngại giao tiếp bằng tiếng Anh. Một số học sinh bị hổng kiến thức từ những cấp học trước. Bên cạnh đó, học sinh chưa có môi trường thực hành tiếng tự nhiên và thường xuyên, đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, một số giáo viên ngại thay đổi...

Sáng tạo của giáo viên làm cho quá trình dạy và học đạt hiệu quả cao hơn trong giáo dục

Cần hiểu chương trình nhà trường cho đúng

Nhiều giáo viên khi triển khai chương trình nhà trường phản ánh gặp khó khăn về cơ sở vật chất như thiếu phòng học, thiếu máy tính... PGS. TS Đỗ Ngọc Thống – Phó Vụ trưởng Vụ GD Trung học (Bộ GD&ĐT) cho rằng, nếu cần đáp ứng đủ những cái đó sẽ không còn là chương trình nhà trường nữa. Chương trình nhà trường là với cái hiện có, với khó khăn ấy, cơ sở vật chất ấy, sách giáo khoa và chương trình ấy, các trường vận dụng như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, để làm tốt hơn, đạt hiệu quả khả quan hơn.

PGS. TS Đỗ Ngọc Thống nhấn mạnh: Chương trình nhà trường bản chất là vận dụng tối đa sáng tạo trong phương pháp dạy học, trong tổ chức thực hiện; đồng thời lưu ý, vận dụng một cách mềm dẻo chương trình quốc gia vào đúng với đối tượng, hoàn cảnh, tạo hiệu quả cao hơn và đạt được mục tiêu giáo dục, như thế không phải là có hai chương trình mà vẫn là chương trình quốc gia nhưng được mềm hóa cho phù hợp với thực tiễn.

Về quy trình phát triển nhà trường, PGS. TS Đỗ Ngọc Thống lưu ý, cần nghiên cứu kỹ chương trình, SGK hiện hành; nghiên cứu kỹ bối cảnh, hoàn cảnh chương trình nhà trường của mình, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học...

Quy trình phát triển chương trình nhà trường chủ yếu tập trung vào khâu tổ chức, thay đổi phương pháp, cách tiếp cận để đạt được hiệu quả tốt hơn.

Nguyễn Nhung (gdtd.vn)

 


Trang 1 trong tổng số 2