ĐIỀU HÀNH-TÁC NGHIỆP

SGD UBNDPGD1

THÔNG TIN - QUẢN LÝ

GOOGLEPCTHKNLICHVIOLETEMISDOIBTNBVBBDTXSMAS RRTT

  • images/stories/hinhanh/1.jpg
  • images/stories/hinhanh/10.jpg
  • images/stories/hinhanh/3.jpg
  • images/stories/hinhanh/4.jpg
  • images/stories/hinhanh/HD1516 5.jpg
  • images/stories/hinhanh/NH2014-2015 3.jpg
  • images/stories/hinhanh/aman.jpg
  • images/stories/hinhanh/dsc04439.jpg
  • images/stories/hinhanh/dscf1254.jpg
  • images/stories/hinhanh/hs thi.jpg
  • images/stories/hinhanh/khen cd.jpg
  • images/stories/hinhanh/phong doc.jpg
  • images/stories/hinhanh/tham gia giai bong da thieu nhi cup nauy.jpg
  • images/stories/hinhanh/ttvh 2011.jpg
  • images/stories/hinhanh/ttvh1thcs2012.jpg
  • images/stories/hinhanh/ttvh2thcs2012.jpg
  • images/stories/hinhanh/tv1.jpg
  • images/stories/hinhanh/vn1dailoc2012.jpg
  • images/stories/hinhanh/vn2dailoc2012.jpg
  • images/stories/hinhanh/vnpl.jpg
  • images/stories/hinhanh/HD1516 1.JPG
  • images/stories/hinhanh/HD1516 2.JPG
  • images/stories/hinhanh/HD1516 3.JPG
  • images/stories/hinhanh/HD1516 4.JPG
  • images/stories/hinhanh/HD1516 6.JPG
  • images/stories/hinhanh/HD1516 7.JPG

Liên kết website

Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay10
mod_vvisit_counterHôm qua475

Chúng ta có: 6 Khách trực tuyến
Tin tức - Sự kiện

Bộ LĐTB-XH có công văn 1287/LĐTBXH-LĐTL Hướng dẫn tính trả lương ngày nghỉ hàng năm

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vừa có văn bản hướng dẫn tính trả lương ngày nghỉ hàng năm. Theo đó:

(hình minh họa)

- Trường hợp NSDLĐ sử dụng NLĐ làm thêm giờ vào ngày nghỉ hàng năm đã được NSDLĐ quy định thì NLĐ được trả tiền làm thêm giờ ít nhất bằng 300% tiền lương thực trả chưa kể tiền lương ngày nghỉ có hưởng lương đối với NLĐ hưởng lương theo ngày;

- Trường hợp NLĐ do thôi việc, mất việc làm hoặc vì lý do khác mà chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm thì được thanh toán tiền ngày nghỉ hàng năm bằng 100% tiền lương theo hợp đồng lao động (HĐLĐ).

Ngoài ra, còn hướng dẫn về phép năm cho thời gian thử việc: sau thời gian thử việc, nếu ký HĐLĐ thì tính vào ngày nghỉ hàng năm, nếu không ký HĐLĐ thì thanh toán tiền ngày nghỉ hằng năm tương ứng.(theo PL)

Xem Nội dung trên được đề cập tại Công văn 1287/LĐTBXH-LĐTL ngày 13/4/2015.

 

Ban hành Thông tư liên tịch số 35/2013/TTLT-BGDDT-BNV-BTC hướng dẫn Nghị định 19/2013/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 61/2006/NĐ-CP

Ngày 19 tháng 09 năm 2013, Bộ GD&ĐT, Bộ NV, Bộ TC ký ban hành Thông tư liên tịch số 35/2013/TTLT-BGDDT-BNV-BTC hướng dẫn Nghị định 19/2013/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 61/2006/NĐ-CP.

Một lớp học ở vùng cao. Ảnh: X.P

(Ảnh minh họa/ quangnam.com.vn)

Một số nội dung chủ yếu hướng dẫn Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 19/2013/NĐ-CP:

1. Tính từ ngày 15 tháng 4 năm 2013 (ngày Nghị định số 19/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành), nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã hết thời hạn công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là 3 năm đối với nữ và 5 năm đối với nam nhưng cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền chưa sắp xếp, luân chuyển công tác trở về nơi ở hoặc nơi làm việc cuối cùng trước khi luân chuyển đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thì tiếp tục được hưởng phụ cấp thu hút bằng 70% hệ số lương của bậc theo chức danh nghề nghiệp hiện hưởng và phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) và thôi hưởng phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Điều 5 Nghị định số 116/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (sau đây gọi chung là Nghị định số 116/2010/NĐ-CP).

Việc xác định đối tượng thuộc diện luân chuyển có thời hạn đến vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp quy định tại Nghị định số 19/2013/NĐ-CP căn cứ vào thời hạn luân chuyển ghi trong quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A là giáo viên đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định luân chuyển từ cơ sở giáo dục không ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đến cơ sở giáo dục ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn với thời hạn 5 năm kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2007 (thời hạn luân chuyển được ghi rõ trong quyết định của cơ quan có thẩm quyền). Đến ngày 01 tháng 9 năm 2012 tuy ông Nguyễn Văn A đã đủ thời gian 5 năm công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhưng cơ quan có thẩm quyền chưa sắp xếp, luân chuyển trở về nơi ở hoặc nơi làm việc cuối cùng trước khi luân chuyn nên ông Nguyễn Văn A vẫn tiếp tục công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn cho đến nay. Trường hợp ông Nguyễn Văn A đã được hưởng phụ cấp thu hút đủ 5 năm quy định tại Điều 8 Nghị định số 61/2006/NĐ-CP và đang hưởng phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Điều 5 Nghị định số 116/2010/NĐ-CP thì kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2013 (ngày Nghị định số 19/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) cho đến khi được luân chuyển trở về nơi ở hoặc nơi làm việc cuối cùng trước khi luân chuyển, ông Nguyễn Văn A được hưởng lại phụ cấp thu hút bằng 70% hệ số lương của bậc theo chức danh nghề nghiệp hiện hưởng, phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) quy định tại Nghị định số 19/2013/NĐ-CP và thôi hưởng chế độ phụ cấp công tác lâu năm theo quy định tại Nghị định số 116/2010/NĐ-CP.

2. Trường hợp nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã được cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền quyết định luân chuyển công tác trở về nơi ở hoặc nơi làm việc cuối cùng trước khi luân chuyển đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thôi hưởng phụ cấp thu hút quy định tại Khoản 1 Điều này kể từ tháng sau liền kề với tháng có quyết định luân chuyển.


 

 

Bộ trưởng trả lời cử tri và ĐBQH: Giải đáp về chế độ thâm niên cho đối tượng nghỉ hưu là giáo viên

(Hình minh họa/ gdtd.vn)

Đại biểu Quốc hội hỏi:

Nghị định số 54/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ không quy định chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo nghỉ hưu trước ngày 01/5/2011. Như vậy, đối với trường hợp giáo viên nghỉ hưu trước tháng 5/2011 không được hưởng chế độ thâm niên, nhưng những người nghỉ hưu sau tháng 5/2011 thì lại được hưởng chế độ thâm niên là không đảm bảo quyền lợi, không công bằng cho đối tượng nghỉ hưu là giáo viên.

Đề nghị Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo với trách nhiệm là một trong những cơ quan tham mưu cho Chính phủ về vấn đề này cần giải thích rõ chính sách nói trên và nếu cần thiết Bộ có thể đề xuất với Chính phủ bổ sung, sửa đổi chính sách này cho phù hợp hơn hay không?

Trả lời:

Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo, nhiều nhà giáo nghỉ hưu đã kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét về việc hưởng phụ cấp thâm niên.

Thực hiện Nghị quyết số 21/2011/QH13 ngày 26 /11/2011, kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIII: “Năm 2012, thực hiện chế độ trợ cấp đối với giáo viên đã nghỉ hưu không được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quy định chế độ trợ cấp đối với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên trong lương hưu.

Ngày 30/8/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 52/2013/QĐ-TTg quy định chế độ trợ cấp đối với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên trong lương hưu. Theo Quyết định số 52/2013/QĐ-TTg, nhà giáo đã nghỉ hưu (kể cả trường hợp chờ đủ tuổi để hưởng lương hưu và bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu) trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1994 đến ngày 31 tháng 5 năm 2011 được hưởng trợ cấp một lần, bằng tiền, được xác định bằng công thức:

Số tiền trợ cấp = (Lương hưu hàng tháng x 10%) x Số năm được tính trợ cấp.

Quyết định nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/10/2013.

(Nguồn: moet.gov.vn)

 

Bộ trưởng BGD&ĐT trả lời cử tri về dạy thêm, học thêm, ...

Quyết liệt chấn chỉnh dạy thêm, học thêm trái quy định

Đại biểu Quốc hội hỏi:

1. Việc quản lý dạy thêm, học thêm theo đánh giá của cử tri chỉ là “bắt cóc bỏ đĩa”. Phải chăng do chương trình quá nặng, nhiều nội dung giảng dạy không cần thiết ở bậc phổ thông, kiến thức còn nặng tính hàn lâm, thiếu thực tiễn, rồi áp lực thi cử là một trong những nguyên nhân khó quản lý việc dạy thêm, học thêm. Bộ trưởng có giải pháp gì để quản lý dạy thêm, học thêm tràn lan hiện nay có hiệu quả? Bộ có chủ trương cắt giảm chương trình ở bậc học phổ thông không?

2. Đề nghị Bộ trưởng cho biết đến bao giờ ổn định quy chế, nội quy của các kỳ thi? Vì hiện nay cứ mỗi năm chuẩn bị đến kỳ thi tốt nghiệp THPT, kỳ thi đại học thì Bộ Giáo dục và Đào tạo lại đưa ra một bản nội quy, quy chế mới, hoặc bổ sung, sửa đổi đã tạo tâm lý chờ đợi, lo lắng đối với học sinh và các phụ huynh.

3. Theo Bộ trưởng khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông và giáo dục đại học là gì?

Trả lời:

1. Về các giải pháp chấn chỉnh việc dạy thêm học thêm trái quy định

Thực hiện Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16/5/2012 về dạy thêm, học thêm, Bộ Giáo dục và Đào đã chỉ đạo quyết liệt các địa phương tổ chức triển khai, phổ biến và thực hiện quy định đến tất cả các cơ sở giáo dục trên địa bàn; Tổ chức thanh tra, kiểm tra một số địa phương để kịp thời xử lý, chấn chỉnh tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan.

Để tháo gỡ những lo lắng, bức xúc của xã hội về tình trạng dạy thêm học thêm trái quy định, cùng với các quy định hiện hành, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang tập trung chỉ đạo thực hiện một số giải pháp:

- Chú trọng công tác giáo dục phẩm chất tận tụy, hết lòng vì học sinh cho đội ngũ giáo viên; Tăng cường công tác tuyên truyền tạo sự đồng thuận của cha mẹ học sinh, sự phối hợp có hiệu quả của các cơ quan chức năng và chính quyền trong việc giáo dục học sinh.

- Tăng cường quản lý giáo viên trong việc thực hiện chương trình dạy học, thực hiện quy định dạy thêm học thêm, nghiêm cấm cắt xén chương trình để đưa vào dạy thêm hoặc ép buộc học sinh học thêm dưới bất kỳ hình thức nào. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc chuẩn bị bài và giảng dạy của giáo viên trong giờ chính khóa và dạy thêm, kiên quyết xử lý giáo viên vi phạm quy định.

- Tiếp tục rà soát, điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giảm đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình, tập trung đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, công tác thi theo hướng gắn với thực tiễn, đánh giá khách quan, thực chất năng lực của học sinh, không yêu cầu học sinh “học vẹt”, ghi nhớ máy móc.

- Tăng cường tổ chức dạy học 2 buổi/ngày để học sinh được tăng thời lượng tự học có hướng dẫn; Chú trọng bồi dưỡng học sinh giỏi, bồi dưỡng kiến thức cho học sinh ôn thi đại học, thi chuyển cấp, quan tâm phụ đạo học sinh yếu kém ở trường và tổ chức các hoạt động giáo dục thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.

- Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, hoàn thiện cơ chế chính sách cho nhà giáo, khuyến khích học sinh giỏi thi vào ngành, trường sư phạm để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học.

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai biên soạn chương trình, sách giáo khoa các bậc học phổ thông để áp dụng từ sau năm 2015 theo định hướng tiếp cận năng lực học sinh, góp phần khắc phục tình trạng dạy thêm học thêm tràn lan.

Theo báo cáo của các địa phương và kết quả thanh tra, kiểm tra đầu năm học 2012-2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy, các địa phương đã quan tâm chỉ đạo thực hiện các quy định này trên địa bàn. Đến nay đã có 38 tỉnh tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ra Quyết định ban hành quy định về quản lý dạy thêm học thêm trên địa bàn; các địa phương còn lại đang hoàn thiện văn bản và xin ý kiến các sở, ngành trước khi trình Ủy ban nhân dân tỉnh.

Cùng với việc ban hành các văn bản chỉ đạo, nhiều địa phương đã có các giải pháp quyết liệt chấn chỉnh tình trạng dạy thêm học thêm trái quy định (như: Quảng Ninh, Đà Nẵng, Phú Yên, Quảng Nam…)

(Hình minh họa)

2. Ổn định quy chế thi

Trong những năm qua, công tác tổ chức các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh đại học, cao đẳng về cơ bản vẫn giữ ổn định.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, để phù hợp với chế độ, chính sách của Nhà nước mới ban hành, đồng thời đảm bảo sự thuận lợi tối đa cho người học, nâng cao hiệu quả tổ chức thi và đáp ứng yêu cầu làm lành mạnh hóa thi cử, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có một số sửa đổi, bổ sung nhỏ đối với Quy chế thi. Tiếp thu ý kiến của Đại biểu, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ cố gắng giữ ổn định quy chế, nội quy các kỳ thi để tránh gây tâm lý lo lắng cho học sinh và phụ huynh.

3. Đổi mới quản lý là khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang phối hợp chặt chẽ với Ban Tuyên giáo Trung ương xây dựng Đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" để trình Hội nghị Trung ương xem xét thông qua.

Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ động chỉ đạo việc đổi mới từng bước vững chắc hoạt động của ngành, lấy đổi mới quản lý làm khâu đột phá nhằm nâng cao chất lượng toàn diện. Cụ thể:

- Đổi mới nhận thức và chuyển tư tưởng chỉ đạo từ mô hình phát triển dựa trên số lượng và quy mô sang mô hình phát triển ưu tiên nâng cao chất lượng và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu xã hội và quy hoạch phát triển nhân lực.

- Đổi mới tư duy quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo theo nguyên tắc: (i) Tách bạch quản lý nhà nước với hoạt động chuyên môn, cơ quan quản lý nhà nước không làm thay nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục; (ii) Đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo, giao chính quyền địa phương các cấp phối hợp tham gia quản lý các cơ sở đào tạo (các đại học, trường đại học và cao đẳng) trên địa bàn; (iii) Chú trọng việc soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và đưa các văn bản quy phạm pháp luật vào cuộc sống, (iv) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động giáo dục và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm; (v) Tạo điều kiện cho việc giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước và các lực lượng xã hội.

(Nguồn: http://www.moet.gov.vn)

 

 

Thông tư LT hướng dẫn thực hiện Quyết định số 12/2013/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Ngày 16/7/2013, Bộ GD&ĐT và Bộ Tài Chính ban hành Thông tư Liên tịch số 27/2013/TTLT-BGDĐT-BTC về Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 12/2013/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

 

Thông tư liên tịch này hướng dẫn thực hiện Quyết định số 12/2013/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

2. Thông tư liên tịch này áp dụng đối với học sinh trung học phổ thông là người dân tộc thiểu số, là người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo ở xã, thôn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 2 của Thông tư liên tịch này.

* Điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ

1. Đối với học sinh là người dân tộc thiểu số, phải bảo đảm các điều kiện sau:

a) Đang học cấp trung học phổ thông tại trường trung học phổ thông hoặc trường phổ thông có nhiều cấp học (có cấp trung học phổ thông) thuộc loại hình công lập;

b) Bản thân, bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại xã, thôn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại Điều 3 của Thông tư liên tịch này;

c) Nhà ở xa trường hoặc địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn, không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày, phải ở lại trường hoặc khu vực gần trường để học tập. Cụ thể:

- Đối với trường hợp nhà ở xa trường: Khoảng cách quãng đường đi từ nhà đến trường từ 10 km trở lên;

- Đối với trường hợp địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn: học sinh đi học phải qua sông, suối không có cầu; qua đèo, núi cao; qua vùng sạt lở đất, đá. Tùy điều kiện thực tế của từng địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định cụ thể khoảng cách và địa bàn để xác định đối tượng học sinh không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày.

2. Đối với học sinh là người dân tộc Kinh: Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 của Điều này, học sinh phải thuộc hộ nghèo theo chuẩn hộ nghèo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015.

Xem Thông tư

Xem phụ lục đính kèm

 

 


Trang 2 trong tổng số 4